Sunday, August 14, 2016

Linux Firewall IPtables Configuration P01– Giới thiệu về IPtables

null
IPtables là gì?
IPtables là một chương trình chạy ở không gian người dùng, cho phép người quản trị hệ thống có thể cấu hình các bảng của tường lửa trong nhân Linux (được cài đặt trong các mô đun Netfilter khác nhau) và lưu trữ các chuỗi, luật. Các mô đun nhân và chương trình khác nhau được áp dụng cho từng giao thức; iptables cho IPv4, ip6tables cho IPv6, arptables cho ARP, và ebtables cho Ethernet frames.
Trước iptables, các gói chương trình dùng để quản lý tường lửa trên Linux là ipchains trên Linux 2.2; ipfwadm trên Linux 2.0, dựa trên chương trình ipfw trên BSD.
iptables giữ lại những ý tưởng chính trong ipfwadmi: các danh sách luật, trong đó mỗi luật chỉ ra những dấu hiệu cần tìm trong một gói tin, và các hành động sẽ thực hiện với một gói tin thỏa mãn các dấu hiệu. ipchains thêm khái niệm chuỗi luật, và iptables mở rộng ra bảng: một bảng được tra cứu khi cần quyết định phải NAT một gói tin, và một bảng khác chỉ ra phải lọc gói tin như thế nào. Thêm vào đó, ba điểm lọc trên hành trình của một gói tin được biến đổi sao cho mỗi gói tin thông qua một điểm lọc.
( Theo wikipedia )

 Cài đặt IPtables

Iptables  được cài  đặt mặc  định trong hệ thống Linux, nhưng chúng ta cũng có thể tự cài package của Iptables hiện tại là iptables-1.4.7-11, việc cài đặt sẽ khác nhau tùy thuộc vào từng OS.
Ví dụ trên Redhat/CentOS:
# rpm –ivh iptables-1.4.7-11.el6.x86_64.rpm
hoặc:
# yum install iptables

IPtables mặc định sử dụng giao diện Console, nhưng chúng cũng có giao diện đồ họa (GUI) và đã được thiết lập sẵn 1 số Rules. Có thể tham khảo 1 số tools to build iptables rule sau:
fwbuilder có thể download tại đây
Turtle Firewall Project có thể download tại đây
Easy Firewall Generator for IPTables tại đây
Firestarter tại đây

Cấu hình IPtables

Có 3 cách để cấu hình IPtables là:
  • Dùng giao diện đồ họa.
  • Dùng lệnh
  • Sửa file /etc/sysconfig/iptables
Share:

Trọn bộ Adobe CS6 Master Collection Mac OSX Full Crack Free Download

Trọn bộ Adobe CS6 Master Collection Mac OSX 
Vậy là cuối cùng Adobe cũng đã ra mắt trọn bộ Adobe Creative Suite 6 Master, theo nhận định của một số người đã sử dụng qua và đánh giá rằng tính năng rất tuyệt vời, và đã là 1 designer thì bạn không thể không nâng cấp trọn bộ Adobe của mình lên CS6 được.


Bộ Adobe Creative Suite 6 Master bao gồm:

Photoshop CS6 Extended
Illustrator CS6
InDesign CS6
Acrobat X Pro
Flash Professional CS6
Flash Builder 4.6 Premium Edition
Dreamweaver CS6
Fireworks CS6
Adobe Premiere Pro CS6
After Effects CS6
Adobe Audition CS6
SpeedGrade CS6
Prelude CS6
Encore CS6
Bridge CS6
Media Encoder CS6

Và theo giá chính thức mà Adobe đưa ra cho bộ Adobe Creative Suite 6 Master đó là 2600USD nghĩa là tính theo tiền Việt đó là hơn 50 triệu VNĐ, đó thực sự là 1 con số to lớn nếu bạn muốn sở hữu đầy đủ bản quyền của bộ phận mềm này.

Và tất nhiên là không phải ai cũng có điều kiện để sở hữu nó đúng không nào? Hôm nay mình xin phép chia sẻ bộ Adobe CS6 này kèm theo cờ rắc để các bạn có thể tha hồ sử dụng mà không phải nghĩ đến cái giá tiền khổng lồ kia (với mình 50tr là khổng lồ rồi, hehe).

Bộ Adobe Creative Suite 6 Master này có tổng dung lượng là 8.37GB, vì dung lượng lớn cho nên mình không thể up về MediaFire được, và nếu có up thì khả năng bị delete cũng rất là cao cho nên mình xin được dẫn link từ những host download khác, hơi nhọc nhằn 1 tí thôi nhưng đảm bảo an toàn.

FULL LINK FSHARE : https://www.fshare.vn/file/VKYWAH9LVF7D
Share:

CleanMyMac 3.4.1 Activation Number Cracked For Mac OS X Free Download

CleanMyMac makes space for the things you love. Sporting a range of ingenious new features, CleanMyMac lets you safely and intelligently scan and clean your entire system, delete large, unused files, reduce the size of your iPhoto library, uninstall unneeded apps or fix the ones that started to work improperly, manage all your extensions from one place and do much more - all from one newly designed and beautifully simple interface.

What's New:
Empty the trash of your Photos app via the Trash Bins module.
Steam games complete and correct uninstallation.
All known crashes and exceptions fixed.

CleanMyMac 3.4.1 Activation Number Cracked For Mac OS X Free Download
Link dowload Fshare: https://www.fshare.vn/file/ELGAQJAHCZPC
Share:

Saturday, August 13, 2016

Tìm hiểu về cơ sở hạ tầng Active Directory

Ở bài viết trước chúng ta đã tìm hiểu về giải pháp xác nhận và truy cập IDA và 5 công nghệ tương ứng 5 phiên bản của Active Directory. Hôm nay chúng ta sẽ tiếp tục tìm hiểu các thành phần trong cơ sở hạ tầng của Active Directory.
+Active Directory data store: AD DS lưu trữ các đối tượng định danh của nó trong directory-kho dữ liệu được xây dựng trên Domain Controller( DC). Directory là một file đơn có tên Ntds.dit được tạo mặc định nằm trong thư mục %SystemRoot%\Ntds trên DC. Cơ sở dữ liệu được chia thành nhiều phân vùng gồm đồ hình(schema), cấu hình( configuration), thống kê toàn cục( global catalog) và domain naming context  chứa dữ liệu về đối tượng trong Domain như user, group, computer.
+Domain Controller( DC): là các máy chủ thực hiện vai trò AD DS. DC cũng chạy dịch vụ phân phối khóa trung tâm(Kerberos Key Distribution Center- KDC) thực hiện việc xác thực cũng như các dịch vụ khác của Active Directory.
+Domain: là đơn vị hành chính với khả năng và đặc tính nhất định được chia sẻ. Các DC tạo lại các phân vùng của kho dữ liệu để lưu trữ dữ liệu đối tượng định danh như user, group,computer. Mọi DC duy trì cùng kho đối tượng định danh nên DC có quyền xác thực mọi đối tượng định danh trong Domain. Domain còn là phạm vi chính sách hành chính như mật khẩu phức tạp, chính sách bảo mật tài khoản. Ví dụ như chính sách cấu hình trên domain này chỉ áp dụng cho tất cả tài khoản domain này mà không cho các tài khoản domain khác. Các thay đổi có thể làm với các đối tượng trong cơ sở dữ liệu Active Directory bởi bất cứ DC nào và sẽ tạo tương tự trên DC khác.
+Forest: là tập hợp một hay nhiều Domain Active Directory. Những domain đầu tiên được cài đặt trong Forest gọi là Forest root domain. Forest chứa định nghĩa đơn của cấu hình mạng và ví dụ đơn của đồ hình directory. Forest là ví dụ đơn của directory không có dữ liệu được tạo lại bởi Active Directory bên ngoài phạm vi Forest.
+Tree: Không gian tên DNS của Domain trong rừng tạo nên Tree. Nếu domain là domain con của domain khác thì hai domain được xem là một Tree. Ví dụ anninhmang.net chứa 2 domain anninhmang.net và newepoche.anninhmang.net thì 2 domain này tạo thành phần tiếp giáp của không gian tên DNS, do đó chúng là cây đơn. Nhưng nếu 2 domain anninhmang.net và newepoche.net thì không phải là tiếp giáp trong không gian tên DNS, nên chúng được xem là 2 cây. Tree là kết quả trực tiếp của tên DNS được chọn cho Domain trong Forest.
+Functional level:chức năng có sẵn trong domain Active Directory hay Forest phụ thuộc mức chức năng của nó.Mức chức năng là một cài đặt AD DS cho phép nâng cao các đặc điểm về độ sâu domain và Forest. Có 3 mức là Windows 2000 Native,Windows Server 2003, Windows Server 2008. Khi nâng mức chức năng,các đặc điểm cung cấp bởi phiên bản Windows đó sẽ trở nên sẵn sàng trên Active Directory. Ví dụ khi nâng mức chức năng lên Windows Server 2008, thuộc tính mới sẽ có sẵn thông tin lần gần nhất người dùng đăng nhập thành công, máy tính người dùng đăng nhập lần gần nhất.
+ Organizational units( OUs): Active Directory là cơ sở dữ liệu phân cấp. Đối tượng trong kho dữ liệu có thể được tập trung trong các kho chứa. Một loại của kho chứa là lớp đối tượng được gọi với tên Container. Các Container mặc định là User,computer, builtin nằm trong Active Directory Users and Computer snap-in. Một loại khác của kho chứa là OU. OU không chỉ cung cấp kho chứa đối tượng mà còn phạm vi để quản lí đối tượng đó. Vì vậy OUs có các đối tượng gọi là đối tượng chính sách nhóm( GPOs) liên kết với chúng. GPOs có thể chứa cấu hình cài đặt sẽ được áp dụng tự động bởi người dùng,máy tính trong OU.
+Sites: khi xem xét sơ đồ mạng phân tán của doanh nghiệp, sẽ đề cập đến Sites. Trong Active Directory, Sites có ý nghĩa rất đặc biệt,có một lớp đối tượng gọi là Site. Active Directory site là đối tượng biểu thị một phần doanh nghiệp trong hệ thống kết nối mạng tốt. Site  ranh giới cho sự tái tạo và sử dụng dịch vụ. DCs trong site thay đổi trong vài giây để liên lạc giữa các Site trên cơ sở được kiểm soát với giả định kết nối liên mạng chậm,đắt hay không đang tin cậy,từ đó so sánh với kết nối bên trong Site. Hơn nữa, máy khách thích sử dụng dịch vụ phân tán cung cấp bởi máy chủ hơn là trên site của nó hay site riêng. Ví dụ khi người dùng đăng nhập domain, hệ điều hành máy khách lần đầu sẽ cố gắng xác thực với DC tại Site hiện tại. Nếu không có DC trên Site đó nó sẽ xác thực trên DC thuộc Site khác.
Qua 2 bài viết về tổng quan cơ sở hạ tầng Active Directory, hi vọng người đọc có thể hiểu một cách khái quát về hệ thống với 8 thành phần: kho lưu trữ, DC, Domain, Forest, Tree, Mức chức năng, OU, Site. Các bài viết tiếp theo sẽ giúp chúng ta đi sâu vào từng thành phần, tìm hiểu và cấu hình cài đặt.
Share:

Friday, August 12, 2016

Cấu hình tường lửa cho VPS Phần 2

Hôm trước mình đã hướng dẫn các bạn cách cài đặt ConfigServer & Firewall (CSF – phần 1), hôm nay mình sẽ hướng dẫn tiếp cách cấu hình cho CSF để có thể bảo vệ VPS chống lại các cuộc tấn công từ bên ngoài.
Để cấu hình cho CSF, bạn chỉ cần chỉnh sửa nội dung file csf.conf trong folder /etc/csf
nano /etc/csf/csf.conf
Sau đó reload CSF để áp dụng thay đổi:
csf -r

Bước 1: Cấu hình ports

Đầu tiên hãy xác định những port bạn sẽ sử dụng và đóng tất cả số còn lại để tăng thêm tính bảo mật cho server.
Mặc định thì những port sau được mở:
TCP_IN = "20,21,22,25,53,80,110,143,443,465,587,993,995"
TCP_OUT = "20,21,22,25,53,80,110,113,443"
UDP_IN = "20,21,53"
UDP_OUT = "20,21,53,113,123"
Danh sách các service đang sử dụng những port trên:
  • Port 20: FTP data transfer
  • Port 21: FTP control
  • Port 22: Secure shell (SSH)
  • Port 25: Simple mail transfer protocol (SMTP)
  • Port 53: Domain name system (DNS)
  • Port 80: Hypertext transfer protocol (HTTP)
  • Port 110: Post office protocol v3 (POP3)
  • Port 113: Authentication service/identification protocol
  • Port 123: Network time protocol (NTP)
  • Port 143: Internet message access protocol (IMAP)
  • Port 443: Hypertext transfer protocol over SSL/TLS (HTTPS)
  • Port 465: URL Rendesvous Directory for SSM (Cisco)
  • Port 587: E-mail message submission (SMTP)
  • Port 993: Internet message access protocol over SSL (IMAPS)
  • Port 995: Post office protocol 3 over TLS/SSL (POP3S)
Khi bạn đã hiểu được ý nghĩa rồi, hãy lựa chọn những port cần thiết mà thôi. Bên dưới là cấu hình những port bạn cần mở khi sử dụng các loại service:
– Trên tất cả server:
TCP_IN: 22,53
TCP_OUT: 22,53,80,113,443
UPD_IN: 53
UPD_OUT: 53,113,123
– Apache/Nginx:
TCP_IN: 80,443
Nếu không dùng HTTPS có thể bỏ port 443
– FTP server:
TCP_IN: 20,21
TCP_OUT: 20,21
UPD_IN: 20,21
UPD_OUT:20,21
– Mail server:
TCP_IN: 25,110,143,587,993,995
TCP_OUT: 25,110
– MySQL server (nếu cần remote access)
TCP_IN: 3306
TCP_OUT: 3306
Lưu ý: Nếu bạn đang dùng IPv6, cần phải cấu hình TCP6_IN, TCP6_OUT, UPD6_IN, và UPD6_OUT tương tự như các port IPv4. Tham khảo thêm danh sách port TCP và UDP trên wiki.

Bước 2: Cấu hình khác

Bên cạnh việc quy định sử dụng port, CSF còn có rất nhiều tùy chọn khác nữa trong file cấu hình. Một số tùy chọn thông dụng bạn nên biết như:
ICMP_IN cho phép ping đến server của bạn, set = 0 để từ chối các request này.
ICMP_IN_LIMIT giới hạn số lượng ping request đến từ 1 địa chỉ IP trong thời gian nhất định. Thông thường bạn không cần phải sửa đổi giá trị mặc định này (1/s)
DENY_IP_LIMIT giới hạn số lượng IP bị block bởi CSF, nếu số lượng IP vượt quá giới hạn này thì những IP cũ sẽ được unblock. Nên giữ số lượng vừa phải bởi nếu bạn lưu nhiều IP quá có thể làm giảm performance hệ thống.
DENY_TEMP_IP_LIMIT cũng tương tự như trên, nhưng cho IP tạm thời.
LF_DAEMON bật chức năng phát hiện login lỗi.
PACKET_FILTER filter các gói tin không hợp lệ.
SYNFLOOD, SUNFLOOD_RATE và SYNFLOOD_BURST kích hoạt chức năng bảo vệ chống SYN flood attacks.
CONNLIMIT giới hạn số lượng kết nối liên tiếp trên 1 port. Ví dụ:
CONNLIMIT = "22;5;443;20"
cho phép tối đa 5 kết nối liên tiếp đến port 22 và 20 kết nối đến port 443
PORTFLOOD giới hạn số lượng kết nối trong mỗi khoảng thời gian trên 1 port. Ví dụ
PORTFLOOD = "22;tcp;5;250"
sẽ giới hạn block địa chỉ IP nếu như tạo quá 5 kết nối trên port 22 sử dụng giao thức TCP trong vòng 250s. Việc block sẽ được tự động xóa sau sau 250s kể từ lần gửi packet cuối cùng. Bạn có thể add thêm port cách nhau bởi dấu phẩy
port1;protocol1;connection_count1;time1,port2;protocol2;connection_count2;time2
Ngoài ra còn có rất nhiều thông số của CSF khác bạn có thể điều chỉnh thêm. Các giá trị mặc định khá tốt và có thể chống lại được việc bị tấn công flood, port scans hoặc dò pass server.
Nếu muốn, các bạn có thể đọc thêm những comment trong file /etc/csf/csf.conf hoặc tham khảo hướng dẫn chính thức từ CSF.
Cuối cùng, để thay đổi có hiệu lực các bạn cần restart lại CSF với lệnh:
csf -r
Chúc các bạn thành công
Share:

Cấu hình tường lửa cho Server VPS Phần 1

ConfigServer Security & Firewall (hay CSF) là một firewall rất phổ biến và hiệu quả được sử dụng trên các server Linux hiện nay. Bên cạnh những tính năng cơ bản như một firewall, CSF còn có những chức năng bảo mật nâng cao khác như ngăn chặn flood login, port scans, SYN floods…
Chi tiết các tính năng của CSF các bạn có thể xem ở đây.

Cách cài đặt CSF

1. Cài đặt các module cần thiết cho CSF
Cài đặt module Perl cho CSF script
yum install perl-libwww-perl

2. Tải CSF

cd /tmp
wget http://www.configserver.com/free/csf.tgz

3. Cài đặt CSF

Tiến hành giải nén và cài đặt CSF
tar -xzf csf.tgz
cd csf
sh install.sh

4. Cấu hình CSF

Mặc định thì script trên sẽ cài đặt và chạy CSF ở chế độ “Testing”, có nghĩa là server lúc này chưa được bảo vệ toàn diện. Để tắt chế độ “Testing” bạn cần cấu hình các lựa chọn TCP_IN, TCP_OUT, UDP_IN và UDP_OUT cho phù hợp với nhu cầu .
Mở file cấu hình CSF
nano /etc/csf/csf.conf
Chỉnh sửa các thông số cho phù hợp
# Allow incoming TCP ports
TCP_IN = "20,21,22,25,53,80,110,143,443,465,587,993,995"

# Allow outgoing TCP ports
TCP_OUT = "20,21,22,25,53,80,110,113,443"

# Allow incoming UDP ports
UDP_IN = "20,21,53"

# Allow outgoing UDP ports
# To allow outgoing traceroute add 33434:33523 to this list
UDP_OUT = "20,21,53,113,123"
Khi đã cấu hình xong, tắt chế độ Testing bằng cách chuyển TESTING = “1” thành TESTING = “0”
TESTING = "0"
Cuối cùng lưu lại file cấu hình CSF

5. Khởi động CSF

Chạy CSF và cho phép tự kích hoạt mỗi khi boot VPS
chkconfig --level 235 csf on
service csf restart

6. Những file cấu hình CSF

Toàn bộ thông tin cấu hình và quản lý CSF được lưu ở các file trong folder /etc/csf. Nếu bạn chỉnh sửa các file này thì cần khởi động lại CSF để thay đổi có hiệu lực.
  • csf.conf : File cấu hình chính để quản lý CSF.
  • csf.allow : Danh sách địa chỉ IP cho phép qua firewall.
  • csf.deny : Danh sách địa chỉ IP từ chối qua firewall.
  • csf.ignore : Danh sách địa chỉ IP cho phép qua firewall và không bị block nếu có vấn đề.
  • csf.*ignore : Danh sách user, IP được ignore.

7. Một số lệnh sử dụng CSF

Một số câu lệnh sử dụng để add (-a) hoặc deny (-d) một địa chỉ IP.
csf -d IPADDRESS 
csf -a IPADDRESS 
csf -r //Khởi động lại CSF
csf -x //Tắt CSF
csf -e //Mở CSF
Trong trường hợp bạn quên những lệnh trên, hãy sử dụng csf sẽ liệt kê toàn bộ danh sách các option.

8. Xóa CSF

Nếu bạn muốn xóa hoàn toàn CSF, chỉ cần sử dụng script sau:
/etc/csf/uninstall.sh
Việc này sẽ xóa toàn bộ CSF nên bạn cần cân nhắc khi dùng. Nếu muốn tạm thời tắt CSF thì có thể chuyển chế độ TESTING sang 1.

Share:

Hướng dẫn open port iptables trên CentOS

Firewall
Nếu bạn muốn mở hoặc đóng port cho VPS thì phải chỉnh sửa file cấu hình của iptables. Mặc định thì file này có đường dẫn là /etc/sysconfig/iptables

Mở port VPS

Ví dụ để mở port xxx, bạn hãy thực hiện lệnh sau:
iptables -A INPUT -m state --state NEW -m tcp -p tcp --dport xxx -j ACCEPT
Sau đó lưu lại cấu hình và khởi động lại iptables
service iptables save
service iptables restart

Đóng port VPS

Để đóng port bất kỳ, bạn chỉnh sửa trực tiếp file/etc/sysconfig/iptables bằng lệnh
vi /etc/sysconfig/iptables
xóa những dòng có port cần đóng.
Sau đó lưu lại cấu hình và khởi động lại iptables
service iptables restart

Kiểm tra lại port đang mở

iptables -L -n
Share:

Find us on Google Plus

Powered by Blogger.

QUẢN TRỊ VIÊN